Skip to main content

TÓM TẮT THÂN THẾ VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐỨC QUẢN CƠ TRẦN VĂN THÀNH

1- Thân thế và quá trình hoạt động

Quản cơ Trần Văn Thành (? - 1873), quê tại làng Bình Thành Đông, tổng Vĩnh Trinh, huyện Vĩnh An, phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh (nay thuộc xã Bình Thạnh Đông, tỉnh An Giang). Ông sinh ra trong một gia đình trung nông, sống vào thời nhà Nguyễn. Phu nhân là bà Nguyễn Thị Thạnh, quê vùng rạch Sa Nhiên (Sa Đéc). Ông bà có sáu người con, gồm ba trai và ba gái.

Năm 1840, ông gia nhập quân đội triều Nguyễn dưới thời vua Minh Mạng. Nhờ phẩm chất đạo đức và tài năng võ nghệ, ông được bổ nhiệm chức Suất đội, chỉ huy 50 binh sĩ, tham gia chiến đấu đánh dẹp quân Xiêm và Chân Lạp xâm nhập, quấy phá vùng biên giới An Giang.

Đến năm 1845, sau khi lập nhiều chiến công, ông được thăng chức Chánh Quản cơ, chỉ huy 500 quân, đóng tại Châu Đốc. Năm 1846, khi tình hình biên giới ổn định, ông được cho giải ngũ theo chính sách “ngụ binh ư nông” của triều đình vua Tự Đức, đồng thời được ban thưởng và khen tặng bốn chữ “Quản cơ tinh binh”.

Năm 1849, Quản cơ Trần Văn Thành quy y theo đạo Bửu Sơn Kỳ Hương của đức Phật Thầy Tây An (Đoàn Minh Huyên), để học phật - tu nhân. Với đức độ và tài năng ông đã trở thành chức sắc có uy tín trong đạo Bửu Sơn Kỳ Hương. Năm 1850, ông được đức Phật Thầy Tây An tin tưởng giao cho nhiều nhiệm vụ quan trọng, nhất là việc đi cắm 5 cây thẻ xung quanh vùng Thất Sơn – Láng Linh với mục đích xác lập chủ quyền vùng đất, ranh giới khai hoang, lập làng theo chủ trương của triều đình Nhà Nguyễn.

Năm 1851, Quản cơ Trần Văn Thành dẫn nhóm tín đồ đạo Bửu Sơn Kỳ Hương vào vùng Láng Linh - Bảy Thưa khai hoang lập làng. Láng Linh lúc bấy giờ là một vùng rộng lớn, rừng rậm, rất nhiều cây Bảy Thưa, lau sậy, cỏ dại mọc um tùm, không có kênh rạch, việc đi lại vô cùng khó khăn, thiên nhiên hoang vu khắc nghiệt, làm cho công việc khai khẩn đất hoang gặp nhiều khó khăn, trở ngại. Di tích còn lưu lại tại đây là trại ruộng Bửu Hương Các, nơi hiện đang thờ phu nhân của ông là bà Nguyễn Thị Thạnh.

2- Những hoạt động chống thực dân Pháp

Năm 1858, thực dân Pháp đã nổ súng ở Đà Nẵng, tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược nước ta. Đến 9 năm sau, ngày 22/6/1867, Pháp mới chiếm được tỉnh An Giang.

Quản cơ Trần Văn Thành đã xây dựng đồn Hàng Tràm tại thôn Bình Thạnh Đông, chiêu mộ quân binh tổ chức đánh quân Pháp. Ông đã tổ chức tấn công đồn Châu Đốc nơi Pháp đóng quân. Sau đó, ông ra lệnh cho quân binh và gia đình rút vào vùng Bảy Thưa - Láng Linh xây dựng căn cứ kháng chiến lâu dài. 

Từ năm 1868, Quản cơ Trần Văn Thành đi các tỉnh Nam bộ tuyển mộ quân binh, là một thủ lĩnh có uy tín, nên đông đảo nhân dân và nhiều nghĩa sĩ yêu nước theo ông, đã giúp ông nhanh chóng tập hợp lực lượng quân binh ngày càng đông. Ông đã tổ chức biên chế thành nhiều đội cùng nhau luyện tập võ nghệ, xây dựng doanh trại, sản xuất, tích trữ lương thực, rèn đúc vũ khí chờ thời cơ đánh Pháp.

Tổng chỉ huy là đồn Hưng Trung được đặt tại trung tâm Bảy Thưa (ấp Hưng Trung hiện nay), xung quanh có hệ thống đồn lũy như Giồng Nghệ, Cái Môn, Sơn Trung, đồn Hờ và trạm canh Ông Tà, tạo thành một vành đai phòng thủ vững chắc. Cách bố trí các đồn của Quản cơ Trần Văn Thành đã hình thành một vành đai bao quanh vùng Bảy Thưa - Láng Linh, cho thấy tính chất quan trọng của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Tháng 4/1872, chủ tỉnh Long Xuyên (là người Pháp tên Emile Puech) cho người vào vùng Láng Linh theo dõi, điều tra. Căn cứ bị lộ, Quản cơ Trần Văn Thành tập hợp lực lượng phất cờ khởi nghĩa chống thực dân Pháp, lấy danh hiệu là “Binh Gia Nghị”. Ông đã tổ chức cho quân binh liên tục tấn công vào những nơi quân Pháp chiếm đóng ở gần Bảy Thưa, dọc theo sông Hậu và rạch Mặc Cần Dưng (Cần Đăng) làm cho quân Pháp bị nhiều tổn thất.

Tháng 6/1872, quân Pháp mở cuộc tấn công vào đồn Giồng Nghệ, lực lượng binh Gia Nghị đã chiến đấu kiên cường, nhưng do lực lượng ít hơn nên đã chủ động rút lui, quân Pháp chiếm đồn Giồng Nghệ. Sau nửa tháng quân Pháp chiếm đóng, lực lượng binh Gia Nghị đã phản công chiếm lại đồn Giồng Nghệ.

Tháng 01/1873, Pháp thay đổi chiến thuật, tìm cách chiêu dụ ông ra hàng với chiêu bài sẽ trọng thưởng. Nhưng danh vọng và giàu sang không thể làm lung lay được ý chí của Quản cơ Trần Văn Thành. Ông đã làm hai câu thơ để nói lên ý chí khẳng khái của mình:

“Thà thua xuống láng, xuống bưng,

Kéo ra đầu giặc lỗi chưng quân thần”

Sau nhiều lần chiêu dụ không thành, tháng 3/1873, chủ tỉnh Long Xuyên và đại úy Pháp Gayon chỉ huy chuẩn bị quân số, đạn dược, lương thực tấn công vào căn cứ Bảy Thưa. Ngày 19/3/1873, quân Pháp chia thành hai cánh: cánh quân thứ nhất, dùng tàu chiến từ Long Xuyên dọc theo sông Hậu vào rạch Mặc Cần Dưng tấn công vào đồn Giồng Nghệ; cánh quân thứ hai, từ Châu Đốc tiến dọc sông Hậu đánh chiếm đồn Hàng Tràm, đồn Hờ. Sau vài trận chiến đấu quyết liệt với tinh thần dũng cảm, gan dạ, lực lượng binh Gia Nghị không chống cự nổi trước hỏa lực mạnh của quân Pháp nên một số quân binh hy sinh và bị bắt.

Ngày 20/3/1873, quân Pháp tập trung lực lượng tấn công vào đồn Hưng Trung, đại bản doanh căn cứ Bảy Thưa. Tại đồn Hưng Trung, Quản cơ Trần Văn Thành vẫn bình tĩnh chỉ huy. Lực lượng binh Gia Nghị trong các chiến luỹ thổi tù và, đánh trống và reo hò để tăng uy thế. Trước hỏa lực mạnh mẽ của quân Pháp, lực lượng binh Gia Nghị đã chống trả quyết liệt với tinh thần chiến đấu dũng cảm, nhưng số hy sinh và bị thương khá nhiều. Đến tối ngày 20/3/1873 (nhằm 21/2 âm lịch), đồn Hưng Trung thất thủ. Quản cơ Trần Văn Thành mất tích, con trai tên Trần Văn Chái bị thương nặng, bị quân Pháp bắt, ông đã tuẫn tiết trong ngục tù ở Châu Đốc. 

3. Ý nghĩa lịch sử

Cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa gắn liền với gương chiến đấu hy sinh dũng cảm vì nước quên thân của Quản cơ Trần Văn Thành đã được Nhân dân Thạnh Mỹ Tây, tỉnh An Giang và trong vùng Tứ giác Long Xuyên khâm phục, tự hào. Đây là cuộc khởi nghĩa có tính chất quyết liệt, quy mô lớn và ý nghĩa lịch sử sâu sắc của Nhân dân An Giang cho đến ngày nay. Cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa tuy thất bại nhưng đã thể hiện tinh thần quật khởi, yêu nước của nhân dân không cam chịu nỗi nhục mất nước và truyền lại cho thế hệ sau chí khí bất khuất đấu tranh vì độc lập, tự do cho Tổ quốc. 

Kế thừa truyền thống yêu nước của Quản cơ Trần Văn Thành, Nhân dân nơi đây đã đứng lên chống giặc ngoại xâm dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh An Giang. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, lớp lớp những người con ưu tú của quê hương đã kiên cường bất khuất vượt qua muôn ngàn gian khổ, không sợ hy sinh đã góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Qua đó, giáo dục truyền thống cách mạng “uống nước nhớ nguồn”, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân cho thế hệ hiện tại và tương lai nâng cao lòng tự hào, tự tôn dân tộc, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, trong tiến trình phát triển cùng với kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, tuyệt đối tin tưởng vào đường lối của Đảng, chấp hành pháp luật Nhà nước, tích cực tham gia thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, chung tay xây dựng nông thôn mới, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng An Giang ngày càng giàu đẹp, văn minh, thịnh vượng.

Đoàn Văn Hiển – Hội viên Hội khoa học lịch sử tỉnh An Giang – nguyên Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Thạnh Mỹ Tây