ĐẤT VÀ NGƯỜI THẠNH MỸ TÂY ANH HÙNG

(Bằng danh hiệu AHLLVT nhân dân xã Thạnh Mỹ Tây)
Vùng đất Thạnh Mỹ Tây được hình thành từ khoảng năm 1852, gắn liền với công cuộc khai hoang vùng Láng Linh – Bảy Thưa do Đức Quản cơ Trần Văn Thành lãnh đạo, có bề dày lịch sử hơn 170 năm. Trải qua nhiều lần điều chỉnh địa giới hành chính, đến ngày 01/7/2025, xã Thạnh Mỹ Tây được sắp xếp theo Nghị quyết số 1654/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (ngày 12/6/2025), với diện tích tự nhiên 162,08 km² và dân số 64.850 người.
Trong buổi đầu khai hoang mở đất, Thạnh Mỹ Tây là vùng đất đầy gian khổ và hiểm nguy. Cư dân đến đây là sự hội tụ của nhiều tầng lớp nhân dân từ nhiều địa phương trong cả nước, theo bước các chúa Nguyễn vào Nam khai phá. Dù hoàn cảnh khác nhau, họ cùng chung khát vọng mưu sinh, lập nghiệp trên vùng đất mới. Ban đầu, cư dân sinh sống rải rác dọc bờ Tây sông Hậu. Đến năm 1851, theo sự hướng dẫn của Đức Phật Thầy Tây An và Đức Quản cơ Trần Văn Thành, họ tiến vào vùng Láng Linh – Bảy Thưa, lập trại ruộng Bửu Hương Các, mở đất dựng làng.
Quá trình khai phá gắn liền với biết bao mồ hôi, xương máu. Người dân phải đối mặt với thiên tai khắc nghiệt, lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh, thú dữ và cả giặc ngoại xâm. Từ nỗi sợ “con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng ghê”, “xuống bưng sợ đỉa, lên rừng sợ ma”, họ đã từng bước chinh phục thiên nhiên, biến vùng đất hoang sơ thành nơi sinh sống trù phú. Từ đó hình thành nên cộng đồng cư dân gắn bó bền chặt, cùng chia sẻ gian lao, xây dựng cuộc sống ổn định, gắn liền với ruộng đồng, vườn tược và ao cá.
Song song với lao động sản xuất, cư dân Thạnh Mỹ Tây sớm xây dựng đời sống văn hóa tinh thần. Các thiết chế tín ngưỡng như đình, chùa được dựng lên làm nơi sinh hoạt cộng đồng, đáp ứng nhu cầu tâm linh, góp phần hình thành nếp sống văn hóa truyền thống. Tiếng chuông chùa, mái đình làng không chỉ là chỗ dựa tinh thần mà còn là biểu tượng của sự cố kết cộng đồng, nuôi dưỡng khát vọng bình yên, an cư lạc nghiệp.
Hiện nay, trên địa bàn Thạnh Mỹ Tây có nhiều cơ sở thờ tự và di tích lịch sử – văn hóa tiêu biểu như: Đền thờ Quản cơ Trần Văn Thành, trại ruộng Bửu Hương Các, Cốc Đạo Cậy, Dinh Trăm Quan, phủ thờ ông Nguyễn Văn Thới, đình Bình An – Thạnh Lợi (trước đây là đình Thạnh Mỹ Tây). Phần lớn các di tích thờ nhân thần, gắn liền với quá trình khai hoang, lập làng và đấu tranh chống ngoại xâm. Đây là những biểu tượng sinh động của văn hóa làng xã Việt Nam, kết tinh phẩm chất và tâm hồn của cư dân vùng đất này.
Trong tâm thức người dân, các di tích lịch sử – văn hóa không chỉ là nơi thờ tự mà còn là phần hồn của quê hương. Hiện có một di tích được công nhận cấp quốc gia là Đền thờ Quản cơ Trần Văn Thành; hai di tích cấp tỉnh là Cốc Đạo Cậy và trại ruộng Bửu Hương Các. Những giá trị đó đã góp phần hun đúc truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền của dân tộc.
Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta năm 1858, nhân dân Thạnh Mỹ Tây đã sớm thể hiện tinh thần yêu nước nồng nàn. Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa – Láng Linh do Đức Quản cơ Trần Văn Thành lãnh đạo, kéo dài từ năm 1867 đến năm 1873. Đây là cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn, diễn ra quyết liệt, để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của địa phương và cả vùng Nam Bộ.
Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930, phong trào cách mạng tại Thạnh Mỹ Tây phát triển mạnh mẽ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương, lực lượng cách mạng đã tổ chức nhiều trận đánh tiêu biểu như trận đánh: đồn Long Châu, Cầu Bò, Cốc đạo Cậy, Vàm Cốc…, góp phần làm suy yếu thế lực địch. Ngày 03/5/1975, Thạnh Mỹ Tây hoàn toàn giải phóng, mở ra thời kỳ mới xây dựng và phát triển.
Sau chiến tranh, Đảng bộ và chính quyền tập trung khắc phục hậu quả, ổn định đời sống nhân dân, phát triển kinh tế – xã hội. Từ năm 1976, địa phương xác định nhiệm vụ trọng tâm là phát triển sản xuất lương thực. Việc chuyển đổi từ sản xuất lúa mùa nổi sang lúa 2 vụ/năm ban đầu gặp nhiều khó khăn, nhưng dần được nhân dân tiếp nhận. Sau trận lũ lớn năm 1978, với sự hỗ trợ của Nhà nước, sản xuất nông nghiệp từng bước phục hồi và phát triển.
Đến năm 1995, phần lớn diện tích đất nông nghiệp đã canh tác 2 vụ lúa/năm, năng suất tăng đáng kể. Từ năm 2000 đến nay, cơ giới hóa và ứng dụng khoa học – kỹ thuật được đẩy mạnh, từ máy móc canh tác đến công nghệ cao như máy gặt đập liên hợp, thiết bị bay không người lái phục vụ sản xuất.
Đến năm 2025, sản lượng lương thực đạt khoảng 250.000 tấn; thu nhập bình quân đầu người đạt 73 triệu đồng/năm. Hệ thống hạ tầng giao thông, chợ, trường học, cơ sở y tế và trụ sở làm việc được đầu tư đồng bộ, đáp ứng nhu cầu phát triển và nâng cao đời sống nhân dân.
Những thành tựu đó là kết quả của sự lãnh đạo sâu sát của cấp trên, sự đoàn kết, thống nhất của Đảng bộ và sự đồng thuận của nhân dân. Nội lực địa phương được phát huy, các nguồn lực được huy động và sử dụng hiệu quả, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển.
Trong hai cuộc kháng chiến cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước, Đảng bộ và nhân dân Thạnh Mỹ Tây luôn thể hiện tinh thần kiên cường, đoàn kết. Với những đóng góp to lớn, địa phương vinh dự được phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” (ngày 28/5/2010); nhiều cá nhân, gia đình được Nhà nước ghi nhận, trong đó có 08 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng và Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Đào Hữu Cảnh.
Tự hào với truyền thống lịch sử, Thạnh Mỹ Tây là vùng đất giàu giá trị văn hóa và cách mạng, nơi hun đúc nên những con người kiên trung, nghĩa tình qua các thời kỳ. Truyền thống ấy tiếp tục được phát huy trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.
Qua đó, góp phần giáo dục truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, bồi đắp lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển. Nhân dân Thạnh Mỹ Tây quyết tâm chung sức xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh, phát triển bền vững trong thời kỳ mới.
Đoàn Văn Hiển – Hội viên Hội khoa học lịch sử tỉnh An Giang – nguyên Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Thạnh Mỹ Tây